Văn bản chỉ đạoVÀ hướng dẫn

Quay lại

Đề cương học tập chuyên đề “Tư tưởng & tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” và tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”

Căn cứ tài liệu học tập chuyên đề “Tư tưởng & tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” và Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn, Ban Tuyên giáo Đảng ủy khối Dân - Chính - Đảng Thành phố biên tập cung cấp đề cương tóm tắt để phục vụ việc học tập hai chuyên đề này với nội dung như sau:

Chuyên đề một

TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU

Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu là những phẩm chất cơ bản trong hệ thống quan điểm đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

A. TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ TIẾT KIỆM VÀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM:

I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TIẾT KIỆM VÀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM

1. Tiết kiệm là gì?

Theo Hồ Chí Minh:

- Tiết kiệm “là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”.

- Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

- Tiết kiệm là tích cực

2. Vì sao phải tiết kiệm:

- Để phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc.

- Để tăng thêm tiền vốn xây dựng đất nước.

- Để nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.

3. Nội dung của tiết kiệm:

- Tiết kiệm sức lao động.

- Tiết kiệm thời giờ của mình và của người khác

- Tiết kiệm tiền của

4. Ai phải cần tiết kiệm?

- Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm.

- Nội dung tiết kiệm phải cụ thể, thiết thực ngay từ trong vị trí công tác của mình.

II. TẤM GƯƠNG MẪU MỰC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG THỰC HÀNH TIẾT KIỆM

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực thực hành tiết kiệm trong đời sống cá nhân.

- Ra đi tìm đường cứu nước, Người đã làm nhiều nghề để kiếm sống và hoạt động cách mạng. Tiền tiết kiệm được Người dùng cho hoạt động của tổ chức, của đoàn thể.

- Khi đã trở thành người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Người vẫn sống giản dị, tiết kiệm như một lẽ tự nhiên trong sinh hoạt hàng ngày.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn tiết kiệm tiền của, thời gian của cán bộ, nhân dân.

- Cả cuộc đời Bác sống giản dị, tiết kiệm tiền của của Nhà nước, của nhân dân.

- Để tiết kiệm thời gian của cán bộ, nhân dân, Người chủ động đến dự lớp học, thăm cán bộ, nhân dân, chiến sĩ, không để nhiều người phải đến với Bác

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hành tiết kiệm.

- Bác viết nhiều tài liệu để giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hành tiết kiệm.

- Người đặc biệt yêu cầu phải triệt để tiết kiệm của công, của dân, của nước.

- Người yêu cầu phải tiết kiệm thời gian, giảm họp hành, tổ chức họp phải đúng giờ.

4. Tiết kiệm để xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

- Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người tiết kiệm để xây dựng đất nước, xây dựng CNXH. Người nói tiết kiệm là yêu nước, yêu CNXH

- Về phần mình, Người tiết kiệm để dành cho nhân dân, cho chiến sĩ

- Hồ Chí Minh không muốn vì mình mà nhân dân lãng phí tiền bạc, thời gian, kể cả khi Người qua đời làm tang lễ(theo di chúc của Bác)

B. TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU:

I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU.

1. Tham ô “Là trộm cướp, là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội”

- Đối với cán bộ, tham ô là “Ăn cắp của công làm của tư. Đục khoét của nhân dân. Ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình …”

- Đối với nhân dân, tham ô là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế.

Nguyên nhân chủ quan của người tham ô là:

- Thiếu lương tâm.

- Kém trách nhiệm.

2. Lãng phí, có các nội dung sau:

- Lãng phí sức lao động.

- Lãng phí thì giờ.

- Lãng phí tiền của Nhà nước, cơ quan và bản thân. Cụ thể là:

+ “Ăn tiêu xa xỉ, liên hoan, sắm sửa lu bù, xài tiền như nước”

+ Trong hoạt động của mình làm cản trở cho sản xuất.

+ Lãng phí là tiêu xài không hợp lý

+ Lãng phí là mắc bệnh “Phô trương hình thức”

+ Lãng phí có khi còn hại nhiều hơn tham ô.

3. Bệnh quan liêu,

- Quan liêu là “xa rời thực tế, xa rời quần chúng nhân dân, xa rời mục tiêu lý tưởng của Đảng”. Bệnh quan liêu là nguy cơ của Đảng cầm quyền, là nguyên nhân của nhiều căn bệnh khác nhau.

- Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, bệnh quan liêu thể hiện qua ba mối quan hệ sau:

+ Đối với người: “Chỉ biết dùng mệnh lệnh, không giải thích, tuyên truyền, không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng”.

+ Đối với việc: Chỉ trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề, “Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn”

+ Đối với mình: là chậm chạp, làm cho qua chuyện; nói một đường, làm một nẻo. Tham ô, hủ hóa; Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”; làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ

- Hậu quả của bệnh quan liêu là hỏng việc, có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí.

- Nguyên nhân của bệnh quan liêu là: xa nhân dân; khinh nhân dân; sợ nhân dân; không tin cậy nhân dân; không hiểu biết nhân dân; không yêu thương nhân dân.

4. Tác hại của tham ô, lãng phí, quan liêu:

a. Tham ô, lãng phí, quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ:

- Là kẻ thù khá nguy hiểm.

- Là “bạn đồng minh của thực dân và phong kiến”.

- Là tội ác

b. Tham ô, lãng phí, quan liêu làm hại đến sự nghiệp xây dựng nhà nước; hại đến công việc cải thiện đời sống nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên:

c. Muốn trừ sạch tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu.

5. Ý nghĩa của chống tham ô, lãng phí, quan liêu:

a. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là cách mạng:

b. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ:

c. Chống tham ô, lãng phí, quan liêu sẽ giúp chúng ta hoàn thành đầy đủ kế hoạch:

II. NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU:

1. Phải tạo nhận thức chung là quyết tâm chống tham ô, lãng phí, quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận.

- Đây là mặt trận tự tưởng và chính trị.

- Đây là cuộc cách mạng nội bộ.

- Phải kết hợp giữa xây và chống.

- Phải đồng tâm nhất trí, mạnh bạo xung phong, huy động được sự tham gia của nhân dân.

- Phải làm thường xuyên nhiệm vụ chống tham ô, lãng phí, quan liêu.

- Phải công khai, dân chủ, minh bạch.

2. Giải pháp chống bệnh quan liêu: làm theo một nguyên tắc và 6 điều:

Nguyên tắc: theo đúng đường lối nhân dân.

Thực hiện 6 điều:

- Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.

- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

- Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiệu rõ.

- Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình.

- Sẳn sàng học hỏi nhân dân.

- Tự mình làm gương cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo.

3. Các bước tiến hành chống tham ô, lãng phí quan liêu trong một cơ quan, đơn vị:

Bước đầu: là đánh thông tư tưởng, làm cho mọi người hiểu:

- Tham ô, lãng phí, quan liêu có hại cho dân, cho nước như thế nào? Vì sao phải chống nạn ấy?

- Khắc phục những ý nghĩ sai lầm.

- Giải quyết những lo ngại không đúng.

Bước thứ hai: chia từng tiểu tổ để nghiên cứu những tài liệu và kiểm thảo.

- Nghiên cứu tài liệu:

- Kiểm thảo:

+ Thật thà kiểm thảo và giúp nhau kiểm thảo.

+ Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống, từ dưới lên.

+ Vừa nêu rõ khuyết điểm, vừa phân tích tư tưởng.

+ Vừa chỉ trích khuyết điểm, vừa khen ngợi ưu điểm.

Bước thứ ba: Đơn vị cơ quan triển khai thực hiện.

- Khen ngợi những người đã thành thật tự kiểm thảo.

- Đặt chương trình chung cho đơn vị.

- Bầu cử Ban lãnh đạo phong trào.

C. TỔ CHỨC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU:

1. Động viên toàn hệ thống chính trị, tất cả cán bộ, đảng viên, công chức ở cơ sở tham gia học tập chuyên đề về “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”

2. Gắn các nội dung thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, các phong trào thi đua của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị với những chỉ tiêu cụ thể, thiết thực; thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X, các giải pháp thực hành tiết kiệm chi ngân sách chống lạm phát của Chính phủ.

3. Động viên, lôi cuốn các tầng lớp nhân dân tham gia, giúp đỡ, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu.

4. Mỗi đảng viên, cán bộ, công chức và toàn thể mọi người dân quán triệt nguyên tắc xây dựng và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh “nói phải đi đôi với làm”, phải “nêu gương” về đạo đức.

5. Mỗi cá nhân, đơn vị, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cán bộ lãnh đạo các cấp phải đặt những chỉ tiêu phấn đấu cụ thể. Căn cứ chỉ tiêu đó, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước tiến hành kiểm tra, giám sát, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh.

Chuyên đề hai

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC

I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI, CHỦ ĐỀ TƯ TƯỞNG & KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM:

1. Bối cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm:

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc là một tác phẩm lớn, được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và hoàn thành vào tháng 10 năm 1947. Tình hình đất nước và công tác xây dựng Đảng lúc này có nhiều điểm mới, đặt ra nhiều yêu cầu mới.

- Về tình hình đất nước: năm 1947 là năm đầu tiên toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến thắng Việt Bắc Thu Đông năm 1947 đã có tác dụng tạo niềm tin chiến thắng, khích lệ, cổ vũ tinh thần kháng chiến của quân và dân cả nước. Cuộc kháng chiến lúc này được tiến hành trong điều kiện tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính.

- Đảng ta, sau Cách mạng Tháng Tám trở thành Đảng cầm quyền. Trong điều kiện cả nước có chiến tranh, Đảng ta chủ trương xây dựng các bộ tự động công tác”.

Để có tài liệu cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện, tu dưỡng trên các mặt tư tưởng, đạo đức và phương pháp làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh X.Y.Z đã viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc.

2. Chủ đề tư tưởng của tác phẩm:

Tác phẩm đề cập đến các vấn đề quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng, tổ chức, phương thức, phương pháp lãnh đạo và công tác quần chúng của Đảng trong điều kiện kháng chiến, kiến quốc.

3. Kết cấu của tác phẩm:

Về hình thức, tác phẩm được chia làm 6 mục lớn. Cụ thể: (I) Phê bình và sửa chữa; (II) Mấy điều kinh nghiệm; (III) Tư cách và đạo đức cách mạng (IV) Vấn đề cán bộ; (V) Cách lãnh đạo; (VI) Chống thói ba hoa. Trong mỗi mục lớn có nhiều mục nhỏ, được sắp xếp theo một trật tự chặt chẽ, bảo đảm tính liên hoàn, chỉnh thể của một tác phẩm lý luận.

II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM:

Nội dung cơ bản của tác phẩm tập trung vào 7 vấn đề lớn:

1. Sửa đổi lối làm việc của Đảng - yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng:

- Phải tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng, tổ chức, phong cách, phương pháp công tác; xác định đó là nhiệm vụ thường xuyên, vừa lâu dài vừa cấp bách như là một quy luật tồn tại và phát triển của một Đảng cách mạng chân chính, nhất là khi Đảng đứng ra đảm nhận sứ mệnh lớn lao đối với sự phát triển của dân tộc.

- Sửa đổi lối làm việc để Đảng hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình.

- Sửa đổi lối làm việc để đẩy mạnh công tác, hiệu quả công việc, làm cho Đảng lớn mạnh không ngừng; đồng thời giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên khắc phục những sai lầm, khuyết điểm. Sửa đổi lối làm việc để khắc phục ba “hạng” khuyết điểm:

+ Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan mà nguyên nhân chính là kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông, không đem lý luận thực hành trong cuộc sống.

+ Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng với ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi, ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết, phá hoại sự đoàn kết toàn dân.

+ Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa.

Hồ Chí Minh coi các bệnh chủ quan, ích kỷ, hẹp hòi, cá nhân, bản vị, cục bộ,… mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra.

2. Vai trò của lý luận và tổ chức thực tiễn:

Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của lý luận, của thực tiễn và quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.

- Lý luận có vai trò rất to lớn, nó như cái kim chỉ nam, chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế.

- Lý luận phải liên hệ chặt chẽ với thực tiễn. lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Lý luận và thực hành có quan hệ qua lại: Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhìn theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn hoặc bắn lung tung cũng như không có tên.

- Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế; phải gắng học, học thì phải hành; phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông. Bên cạnh học lý luận, phải có ý thức tổng kết kinh nghiệm trong công tác. Phê bình và tổng kết kinh nghiệm công tác là quy luật tiến bộ trong sự nghiệp cách mạng.

3. Vấn đề bản chất và tư cách của Đảng cách mạng:

- Bản chất của Đảng thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng và lợi ích mà nó đại diện. Đối với Đảng ta, bản chất đó được Người xác định rất rõ: Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hóa, chính trị của nhân dân. Toàn dân được giải phóng tức là Đảng được giải phóng.

- Hồ Chí Minh đã đưa ra 12 điều thuộc về tư cách của một Đảng chân chính cách mạng, theo đó “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

- Đảng phải liên hệ mật thiết với quần chúng, giữ kỷ luật nghiêm từ trên xuống dưới, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình, không che dấu khuyết điểm của mình.

4. Vấn đề đạo đức cách mạng:

Hồ Chí Minh đề cập đến đạo đức cách mạng trên nhiều khía cạnh, tổng quát và toàn diện.

- Trước hết, xác định rõ vị trí, vai trò của đạo đức cách mạng đối với Đảng nói chung và với từng cán bộ, đảng viên nói riêng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Sự nghiệp cách mạng vẻ vang, cao cả, to tát, khó khăn đòi hỏi người cách mạng phải có các phẩm chất tương ứng về đạo đức và đạo đức đó phải trở thành “cái căn bản” của mỗi người.

- Về nội dung, đạo đức cách mạnh bao gồm 5 tính tốt: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Những tính tốt này của đạo đức cách mạng mang đậm đà bản sắc truyền thống dân tộc, từ đạo đức Nho giáo, được Người kế thừa, phát triển, thay đổi trật tự, vị trí. Nội dung từng chuẩn mực đã được Người giải thích theo một tinh thần hoàn toàn mới, mang tính cách mạng.

- Về đặc trưng đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định, với 5 tính tốt đó, đạo đức cách mạng khác với đạo đức cũ.

5. Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ của Đảng:

Hồ Chí Minh đã nêu ra một cách hệ thống các quan điểm về cán bộ và công tác cán bộ.

- Cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân.

- Cán bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng. “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”

- Người cán bộ cách mạng phải hội đủ các tiêu chuẩn: Đức và tài, phẩm chất và năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách, phương pháp công tác tốt, trong đó phẩm chất đạo đức phải là yếu tố hàng đầu, là gốc, là nền tảng.

- Công tác cán bộ là cái gốc của Đảng, là một vấn đề trọng yếu, rất cần kíp. Thực chất công tác cán bộ là “nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”

Hồ Chí Minh chỉ ra một cách chi tiết, cụ thể, dễ hình dung, dễ thực hiện của công tác cán bộ, đó là:

+ Huấn luyện cán bộ toàn diện .

+ Dạy cán bộ và dùng cán bộ.

+ Lựa chọn cán bộ.

+ Bồi dưỡng cán bộ.

+ Thực hiện chính sách đối với cán bộ.

6. Phương thức lãnh đạo của Đảng:

Hồ Chí Minh sử dụng thuật ngữ “cách lãnh đạo”. Người cho rằng, muốn giữ vững vai trò lãnh đạo, tập hợp quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Đảng cầm quyền phải có cách lãnh đạo đúng, thích hợp.

- Lãnh đạo đúng nghĩa là: Phải giải quyết mọi vấn đề một cách cho đúng. Phải tổ chức thi hành cho đúng. Phải tổ chức sự kiểm soát.

- Về phương thức lãnh đạo, Người lưu ý kết hợp chặt chẽ giữa các mặt: Liên hợp chính sách chung và chỉ đạo riêng; liên hợp lãnh đạo với quần chúng.

- Năm nguyên tắc trong lãnh đạo của Đảng, về đại thể là: việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với quần chúng; tin vào quần chúng; theo trình độ giác ngộ và sự tự nguyện của quần chúng; tuyệt đối không theo đuôi quần chúng; “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”, việc gì cũng phải “từ dưới nhoi lên”.

7. Phương pháp tuyên truyền, vận động quần chúng:

- Hồ Chí Minh cho rằng, “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”, “Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, sửa đổi lối làm việc cũng phải vì dân, dựa vào dân thì mới thành công, mới có kết quả mong muốn”.

- Hồ Chí Minh khẳng định, muốn tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng, vấn đề rất quan trọng là phải có cách tuyên truyền, vận động hợp lý, khoa học, nhất là nói và viết sao cho hiệu quả, làm thế nào mà “mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ao ước của quần chúng”.

- Về phương pháp tuyên truyền, vận động quần chúng Hồ Chí Minh yêu cầu: Học cách nói của quần chúng; dùng lời lẽ thí dụ thiết thực, dễ hiểu; đúng đối tượng người đọc, người nghe; điều tra, nghiên cứu kỹ trước khi nói, khi viết; chưa biết rõ chớ nói, chớ viết; chuẩn bị kỹ, sắp đặt cẩn thận, kiểm tra sau khi viết. v.v…

III. GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÁC PHẨM:

1. Giá trị lý luận:

- Có ý nghĩa phương pháp luận đặc biệt sâu sắc. Nó thể hiện những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh.

- Tác phẩm đã trình bày một cách hệ thống các mặt cơ bản hợp thành nội dung công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện Đảng trở thành Đảng cầm quyền.

- Là sự kế thừa lý luận Mác - Lênin về xây dựng Đảng, vừa bồ sung, phát triển, làm phong phú lý luận đó trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là nhấn mạnh vai trò của nhân tố đạo đức trong việc nâng cao uy tín, sức mạnh, sức chiến đấu của Đảng.

- Giải đáp một cách khoa học mối quan hệ giữa các khâu của công tác xây dựng Đảng.

Các quan điểm lý luận của tác phẩm đó có tác dụng chỉ đạo công tác xây dựng Đảng trong mọi giai đoạn phát triển đất nước.

2. Giá trị thực tiễn:

- Là tài liệu học tập thiết thực, bổ ích trong việc giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên trở thành những người cách mạng trung thành với sự nghiệp của Đảng, của nhân dân.

- Tác động tích cực đến đông đảo quần chúng nhân dân, mang lại sự hứng khởi, niềm tin tưởng cho họ vào sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo với mục tiêu duy nhất: Phục vụ nhân dân, vì độc lập dân tộc, vì ấm no, hạnh phúc của mọi người dân; làm cho quần chúng nhân dân tin yêu Đảng, gắn bó với Đảng, thực hiện tốt đường lối của Đảng, chủ động, tích cực tham gia xây dựng Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đất nước

- Ra đời trên 60 năm, tác phẩm vẫn là một trong những văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

 

BAN TUYÊN GIÁO ĐẢNG ỦY KHỐI